Điều trị sốt rét phối hợp

0
14

Trong chuyên ngành sốt rét, một thuật ngữ thường được sử dụng là sốt rét phối hợp. Vậy thuật ngữ này có ý nghĩa như thế nào và cách nào để điều trị sốt rét phối hợp có hiệu quả?

Trong chuyên ngành sốt rét, một thuật ngữ thường được sử dụng là sốt rét phối hợp. Vậy thuật ngữ này có ý nghĩa như thế nào và cách nào để điều trị sốt rét phối hợp có hiệu quả?

Xác định nhiễm phối hợp ký sinh trùng sốt rét

Ký sinh trùng sốt rét gây bệnh cho người có 4 chủng loại là Plasmodium falciparum, Plasmodium vivax, Plasmodium malariae và Plasmodium ovale. Trong đó, hai chủng loại Plasmodium falciparum và Plasmodium vivax gây bệnh khá phổ biến tại nước ta. Chủng loại Plasmodium malariae chỉ mới phát hiện một số trường hợp chủ yếu tại tỉnh Khánh Hòa. Riêng chủng loại Plasmodium ovale hiếm gặp tại Việt Nam.

Cán bộ y tế tẩm màn phòng chống sốt rét cho bà con huyện Quỳ Hợp, Nghệ An.
Tại khu vực miền Trung – Tây Nguyên, năm 2010 đã phát hiện được 12.255 ký sinh trùng sốt rét qua lam máu xét nghiệm; trong đó ghi nhận 167 trường hợp nhiễm phối hợp ký sinh trùng, chiếm tỷ lệ 1,36%. Trong 5 tháng đầu năm 2011, cả khu vực cũng đã phát hiện được 3.120 ký sinh trùng sốt rét, trong đó có 140 trường hợp nhiễm phối hợp ký sinh trùng, chiếm tỷ lệ 4,49%. Bệnh nhân nhiễm ký sinh trùng phối hợp chiếm tỷ lệ thấp nhưng xét nghiệm viên không chú ý trong công tác chuyên môn nghiệp vụ của mình thì có thể xảy ra sự sai sót khi trả lời kết quả và làm ảnh hưởng đến việc chỉ định điều trị của bác sĩ theo phác đồ quy định.
Hiện nay tại nước ta, nhiễm ký sinh trùng sốt rét phối hợp thường chú ý đến 2 chủng loại Plasmodium falciparum và Plasmodium vivax; chủng loại Plasmodium malariae cần cảnh giác vì ít phổ biến, còn chủng loại Plasmodium ovale thì hiếm gặp.

Khi xét nghiệm lam máu nhuộm giemsa để phát hiện ký sinh trùng sốt rét, xét nghiệm viên cần chú ý đến 5 yếu tố cơ bản để xác định hình thể của ký sinh trùng là: nhân tròn, nhỏ, bắt màu đỏ; nguyên sinh chất bắt màu xanh da trời; không bào; sắc tố hình chấm hoặc hình que, màu nâu đen hoặc màu nâu ánh vàng; các hạt bệnh lý đặc hiệu và kích thước của hồng cầu bị nhiễm ký sinh trùng sốt rét.

Điều kiện để xét nghiệm viên kết luận xác định ký sinh trùng sốt rét phải có ít nhất 2 yếu tố ở trên trở lên như: nhân và nguyên sinh chất đối với thể tư dưỡng trẻ, nhân và sắc tố hoặc nguyên sinh chất và sắc tố đối với thể tư dưỡng già, thể giao bào. Các xét nghiệm viên ở những cơ sở y tế đã được đào tạo, tập huấn về kỹ năng thực hành một cách cụ thể, đầy đủ để có thể xác định được hình thể các chủng loại, thể loại và mật độ của ký sinh trùng sốt rét. Khi chẩn đoán và trả lời kết quả, xét nghiệm viên cần chú ý soi lam máu nhuộm giemsa thật kỹ càng để xác định. Nếu đã phát hiện được chủng loại, thể loại và đánh giá được mật độ của loại ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum; cần phải xem xét thêm để phát hiện chủng loại, thể loại và mật độ của loại ký sinh trùng sốt rét Plasmodium vivax hoặc Plasmodium malariae mà người bệnh có thể bị nhiễm phối hợp kèm theo và ngược lại.

Theo quy định của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), để bảo đảm yêu cầu về chuyên môn kỹ thuật, mỗi bệnh nhân cần lấy cả giọt máu dày và giọt máu mỏng trên cùng một lam kính xét nghiệm. Giọt máu dày giúp soi phát hiện ký sinh trùng sốt rét và giọt máu mỏng giúp soi định loại ký sinh trùng sốt rét. Phải soi đủ 100 vi trường trên lam máu giọt dày, nếu phát hiện được ký sinh trùng sốt rét thì dừng soi và ghi kết quả dương tính. Một điều xét nghiệm viên cũng cần chú ý là phải soi đủ 200 vi trường trong thời gian 10 phút trên lam máu giọt dày, nếu không tìm thấy ký sinh trùng sốt rét mới được ghi kết quả âm tính. Khi bệnh nhân bị nhiễm phối hợp cả hai chủng loại ký sinh trùng sốt rét thì việc trả lời kết quả cũng phải ghi rõ chủng loại, thể loại, mật độ của hai chủng loại ký sinh trùng này; giúp cho công tác điều trị đạt được hiệu quả.

Điều trị sốt rét nhiễm ký sinh trùng phối hợp

Hầu hết các trường hợp bệnh nhân sốt rét bị nhiễm ký sinh trùng sốt rét phối hợp được ghi nhận tại nước ta, chủng loại Plasmodium falciparum phần lớn đều hiện diện trong kết quả xét nghiệm. Chủng loại ký sinh trùng sốt rét này thường gây nên sốt rét ác tính dẫn đến tử vong nên việc điều trị có khuynh hướng ưu tiên nghiêng về Plasmodium falciparum mặc dù người bệnh bị nhiễm cả hai chủng loại Plasmodium falciparum và Plasmodium vivax hoặc Plasmodium falciparum và Plasmodium malariae. Thuốc sốt rét sử dụng để điều trị cũng có tác dụng trên các chủng loại ký sinh trùng.

Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh sốt rét đã được Bộ Y tế ban hành, sốt rét nhiễm ký sinh trùng phối hợp có Plasmodium falciparum được điều trị căn cứ vào nhóm người bệnh và loại thuốc sốt rét. Bệnh nhân dưới 3 tuổi: sử dụng thuốc dihydroartemisinin-piperaquin, biệt dược là arterakine, CV artecan. Bệnh nhân từ 3 tuổi trở lên: sử dụng thuốc dihydroartemisinin-piperaquin, biệt dược là srterakine, CV srtecan; kết hợp với thuốc primaquin 14 ngày. Bệnh nhân là phụ nữ có thai trong 3 tháng: sử dụng thuốc quinin phối hợp với thuốc clindamycin. Bệnh nhân là phụ nữ có thai trên 3 tháng: sử dụng thuốc dihydroartemisinin-piperaquin, biệt dược là arterakine, CV artecan.

Liều lượng sử dụng các loại thuốc sốt rét và nhóm bệnh nhân nêu trên phải căn cứ theo quy định trong phác đồ điều trị của Bộ Y tế và chỉ định của bác sĩ điều trị.

Các cơ sở y tế cần nên quan tâm đến việc phát hiện, chẩn đoán và điều trị những trường hợp bệnh nhân bị nhiễm ký sinh trùng sốt rét phối hợp để mang lại hiệu quả tốt mặc dù tỷ lệ nhiễm thấp, dễ bị bỏ sót.

BS. Nguyễn Trâm Anh

LEAVE A REPLY